Là các phương pháp tập để tăng khí trong cơ thể. Vận
động gân cơ xương, lục phủ ngũ tạng nhằm thông đường đi cho khí trong
cơ thể. Các bài tập như: Dịch cân kinh, Ngũ cầm hí … Việc vận động và
hít thở tập trung cho khai thông kinh mạch. Cho nên người học phải hiểu
vấn đề ngay từ đầu tập mới có kết quả. Việc hít thở trong khí công
lúc tập khí công động , lúc tĩnh công thì chú tâm nhiều đến cách vận
khí.
"Khí" người Trung Hoa phát âm là "Chi" hay "Qi",
"Ki" ở người Nhật Bản, "Ghee" ở người Đại Hàn và
"Prana" ở người Ấn Độ. "Khí" nghĩa thông thường có liên
quan đến "Không khí" hoặc "Chất Hơi", một chất không hình,
dễ di động, dễ phân tán, dễ tích tụ, tính co dãn có thể tạo nên sức ép lớn
mạnh, tùy theo số lượng của nó.
"Công" do chữ "công phu", người Trung Hoa phát âm là
"Kungfu", có nghĩa là việc làm được thực hiện trong một số lượng thời
gian.
Do đó, "khí công" có thể hiểu là một tiến trình hít thở không khí, để
gia tăng nguồn sinh lực của thể chất lẫn tinh thần trong con người. Trong đó,
"dưỡng khí" (oxygen)được hấp thụ qua không khí, và "thán
khí" (carbon dioxide) được loại trừ ra ngoài cơ thể. Đây là hai yếu tố
chính yếu trong việc gia tăng nguồn sinh lực cơ thể.
Trong võ thuật cổ truyền đông phương, khí công còn được gọi là "nội
công", một công phu tập luyện "tán tụ nội khí", triển khai tối
đa sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, để áp dụng vào kỹ thuật chiến đấu, cũng như
gia tăng sức khỏe thân tâm.
Lược Sử Khí Công:
Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công được bắt nguồn từ thuở xa xưa, từ khi
có sự hiện diên loài người trên quả đất này. Căn cứ vào văn hóa cổ truyền đông
phương, khí công đã được áp dụng qua các phương pháp thực hành, và triết lý dẫn
đạo, hầu hết, trong ba môn học: Y học, Đao học, và Võ học.
Theo y như Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C. trước Tây Lịch), và sách Dịch
Kinh (2400 B.C. trước Tây lịch), nền tảng Đông Y học được dựa trên lý thuyết nguồn
khí lực, Âm Dương và Ngũ Hành để lý giải, điều trị bệnh tật và tăng cường sức
khỏe con người.
Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch), người Trung Hoa đã biết
dùng những dụng cụ bén nhọn bằng đá, để châm chích vào các huyệt đạo trên cơ thể,
nhằm gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền nguồn khí lực, trong việc trị bệnh cho con
người.
Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức Kinh, tác giả Lão Tử, một
nhà hiền triết Trung Hoa, đã đề cập đếnn vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện
khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ. Sử liệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng
các phương pháp luyện khí đã có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc
(770 – 221 B.C. trước Tây lịch). Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221
B.C. trước Tây lịch đến 220 A.C. sau Tây lịch), một số sách dạy luyện khí công
đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ. Các phương pháp truyền
dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung những nguyên lý vận hành khí lực trong
cơ thể.
Vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch, nguyên lý về khí lực đã được minh chứng hiệu
quả bởi y sư Hoa Đà, qua việc áp dụng kỹ thuật châm cứu, để gây nên tình trạng
tê mê cho bệnh nhân, trong lúc giải phẫu. Cũng như, ông đã sáng chế những động
tác tập luyện khí "Ngũ Cầm Hí", dựa theo tính chất và động tác của 5
loại thú rừng như: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim.
Vào năm 520 – 529 sau Tây lịch, tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn Độ, tại Tung Sơn
Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam, ngài đã soạn ra sách Dịch Cân Kinh, đ dạy các môn đồ
phát triển nguồn khí lực, tăng cường sức khỏe trên đường tu đạo, cũng như, thân
thể được cường tráng, gia tăng sức mạnh trong việc luyện võ.
Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu Lâm đã sáng chế thêm
những bài tập khí công như: Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công
Ngũ Hình Quyền...
Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279 sau T.L.), tại núi Võ
Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong sáng chế bài nội công luyện khí Thái Cực Quyền,
gồm những động tác giúp người tập luyện cường kiện sức khỏe thân tâm.
Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế bởi nhiều võ phái khác
nhau. Dần dần, các võ phái nhỏ, ít người biết đến, đều bị mai một, cùng với
những phương pháp truyền dạy bị lãng quên trong quá khứ. Đến nay, một số ít các
bài võ luyện khí công còn được ghi nhận qua một số tài liệu hạn hẹp của Trung
Hoa như: Dịch Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ
Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ phái của Trần Gia, Dương Gia và Vũ Gia,
Bát Quái Quyền, Hình Ý Quyền, Lục Hợp Bát Pháp Quyền...
III. Triết Lý Khí CôngA. Vũ trụ quan
Theo quan niệm Đông phương, khởi nguyên sự hình thành của vũ trụ, vạn vật được
bắt nguồn từ một khối "Khí" đầu tiên gọi là "Thái Cực",
bành trướng vô cùng tận. Sau tiến trình nội tại, khối "Khí" này được
phân thành hai nhóm khí đối nghịch nhau: "Khí Âm" và "Khí
Dương", được gọi là "Lưỡng Nghi". Hai nhóm "Khí Âm" và
"Khí Dương" này chạm vào nhau, để sanh ra khí thứ ba, mà Lão Tử gọi
là "Xung Khí". Từ đó, vũ trụ, vạn vật được hình thành. Đạo đức Kinh
có ghi: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, vạn
vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa." Học giả Trương Hoành Cừ có
nói:
"- Khí tụ lại thành hình, khí tán đi hình loại, muôn vật trở lại Thái
Hư." Vạn vật biến chuyển, thay đổi không ngừng theo định luật phổ quát mà
Kinh Dịch có ghi: "- Sinh, Trưởng, Thâu, Tàng." Cũng như, Phật Giáo
quan niệm: "-Sinh, Trụ, Dị Diệt." Do đó, khí là nguồn gốc, là sinh
lực của vạn vật và vũ trụ.
Hai tính chất căn bản là Âm và Dương của khí được quân bình, nằm trong ba loại
khí tổng quát: Thiên Khí, Địa Khí và Nhân Khí.
Thiên Khí đến từ vũ trụ thiên nhiên, với lực sống động vĩ đại huyền diệu, giúp
cho đại vũ trụ thiên nhiên được vận chuyển trong một trật tự tuần hoàn. Thí dụ:
Mặt trăng, mặt trời, thái dương hệ, tất cả bầu trời không gian vô tận...đều là
những nguồn chứa thiên khí. Thiên khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng
lớn đến thời tiết, khí hậu và thiên tai. Thí dụ như những hiện tượng gió thổi,
mưa rơi, bão tố, sấm sét...d xảy ra đều nhằm mục đích tái tạo sự quân bình Âm
Dương trong thiên khí.
"Địa Khí đến từ quả đất, cũng như từ sự thấm những nhuần, hoặc ảnh hưởng
tác dụng của thiên khí trên quả đất. Địa khí còn được sinh ra bởi từ trường của
quả đất, cũng như, hơi nóng được phát ra từ trong lòng đất. Những vùng đất
thường xảy ra núi lửa, hay những đường rạn nứt trong lòng đất, để tạo nên những
tai họa động đất, chính làn nơi phát ra nguồn địa khí. Sự di chuyển của địa khí
được thể hiện qua các hiện tượng như: đất cát di chuyển theo dòng nước lũ, để
mang bồi đắp tạo nên những nơi cồn đảo. Trái lại, những vùng mất đất sẽ trở
thành sông sâu, lớn rộng. Mặt khác, trong lúc có nhiều mưa, mặt đất trở nên đầy
nước ngập lụt. Trái lại, khi khí trời khô, nóng gắt, hạn hán, mặt đất trở nên
khô cằn, nứt nẻ. Tất cả những hiện tượng nói trên đều tạo nên sự thay đổi địa
khí, do bởi sự mất quân bình âm dương tính trong địa khí.
"Nhân Khí" là sinh lực con người.`con người là một tiểu vũ trụ, nằm
trong sự chi phối của đại vũ trụ thiên nhiên. Do đó, nhân khí phải chịu ảnh
hưởng vào thiên khí và địa khí.
B. Nhân Sinh Quan
Con người khi còn là thai nhi trong bụng mẹ, được nuôi dưỡng bằng nguồn sinh
lực (Nhân Khí) của bà mẹ, qua đường cuống rốn thai nhi. Sau khi chào đời, qua
tiếng khóc đầu tiên, hài nhi biết hít thở, hấp thụ nguồn Thiên Khí từ bên
ngoài. Nguồn thiên khí đầu tiên này, khi được vào trong cơ thể hài nhi, biến
thành nguồn "Dinh Khí", và tác dụng làm nguồn sinh lực (Nhân Khí) của
bà mẹ sãn có trong hài nhi, trở thành "Vệ Khí" được thể hiện bởi hai
dòng: khí nóng (Dương) và khí lạnh (Âm). Dòng khí nóng (Dương) chạy lên phần
trên cơ thể đến các bộ phận: tim gan, phổi và não bộ trong khi dòng khí lạnh
(Âm) chạy xuống phần dưới cơ thể, đến các bộ phận: bụng dưới, thận, sinh dục và
hai chân. Tiếp theo, sự sinh tồn của hài nhi cần phải được nuôi dưỡng bởi nguồn
Nhân Khí từ bên ngoài, do ảnh hưởng của Thiên Khí và Địa Khí, qua môi trường
không khí trong sạch , nước uống và thực phẩm (đọn vật và thực vật). Nguồn Nhân
Khí (sinh lực) này được lưu chuyển điều hòa, trong những đường ống ngang dọc
của hệ thống Kinh, Mạch, Lạc, Huyệt, để liên hệ đến các tạng phủ (các bộ phân
như: Tim, phổi, bao tử, lá mía, ruột già, ruột non, gan, thận, túi mật và bàng
quang...)
Vớ tuổi thọ tăng dần, các đường ống dẫn khí lực này, càng ngày trở nên trì trệ,
yếu kém, trong việc cung cấp sinh lực (Nhân Khí) nuôi dưỡng cơ thể, do đó, sức
khỏe con người dễ trở nên suy yếu, bệnh tật, nếu không được bồi dưỡng đúng mức.
Để tái tạo sức khỏe bình thường, việc khai thông hệ thống kinh mạch , cũng như,
quân bình Ân Dương tính trong nguồn sinh lực (nhân khí) rất cần thiết cho cơ
thể con người. Ở điểm này, Đông Y Học đã áp dụng một trong những trị liệu pháp
như: dược phẩm (thuốn hóa học ở các lá, thân và rễ cây), Châm cứu pháp, Án ma
pháp (thuật xoa bóp trên các kinh mạch, và ấn ép trên các huyệt đạo), Khí công
trị liệu (phương pháp hô hấp) và tể dục dưỡng sinh (áp dụng các động tác vận
chuyển để đả thông kinh mạch)...
Trong phép dương sinh, người ta cần phải biết sống hòa hợp với luật thiên
nhiên, để khia thác tối đa lợi thế của Thiên Khí và Địa Khí, trong việc giữ
quân bình âm dương tính cho Nhân Khí của con người. Từ đó, sức đề kháng trong
cơ thể được kiện toàn, sẵn sàng tiêu trừ các mầm móng bệnh chứng, có thể xảy ra
cho con người. Ngoài ra, viện tập luyện khí công rất ích lợi, giúp cho Nhân Khí
được điều hòa, làm chậm sự thoái hóa của các tế báo trong cơ thể, cũng như,
điều hợp thuận lợi với Thiên Khí và Địa Khí từ bên ngoài.
IV.Phương Thế Thực Hành
Trong khí công gồm có ba loại thở căn bản: thở sâu (hay thở thấp, hoặc thở Đan
Điền), thở Ngực (hay thở trung bình) và thở cao. Để thực tập các bài khí công,
học viên có thể áp dụng một trong ba tư thế chánh yếu như: thế đứng, thế ngồi
và thế nằm. Trong mổi tư thế chánh này còn được chia ra kàm nhiều tư thế phụ
như sau:
Với tư thế đứng còn có thế đứng tự nhiên, thế đứng chân trước chân sau, và thế
đứng trung bình tấn (hai chân dang rộng ra hai ben trái phải). Với tư thế ngồi
gồm có tư thế ngồi tréo chân như: ngồi Kiết Già, ngồi Bán Già, ngồi Xếp Bằng
(ngồi tréo tự nhiên) và ngồi quỳ gối.
Với tư thế nằm gồm có nằm thẳng người với lưng tựa phía dưới.
Trong các tư thế đứng, ngồi, và nằm, tư thế đứng mang lại nhiều ích lợi hơn.
Cho nên, các tư thế đứng đã đã được áp dụng tối đa trong các bài tập khí công
của quyền thuật gia. Sau đây là những ích lợi của tư thế đứng:
- Tư thế đứng rất thuận tiện, khi tập ở những nơi công cộng,ngoài trời, nơi có
không khí trong lành như: công viên, đồng cỏ, rừng cây, bờ hồ, bờ sông, bờ
biển, và các vùng ngoại ô....
- Tư thế đứng còn giúp cho máu lưu thông dễ dàng trong hệ thống tuần hoàn. Do
đó, nguồn khí lực dễ chuyển dẫn đến các bộ phận trong khắp cơ thể.
- Ngoài ra, tư thế đứng tránh được tình trạng ru ngủ như ở hai tư thế ngồi và
nằm. Cho nên, học viên có đủ thời gian hoàn tất việc tập luyện.
V. Làm cách nào có thể đạt được khí cảm (cảm giác về khí trong cơ thể)?
Ta hãy xét một thanh nam châm. Ban đầu nó cũng chỉ là một thanh thép bình
thường, các điện tích trong nó không có trật tự, chuyển động hỗn loạn, triệt
tiêu năng lượng của nhau. Sau khi đặt nó vào trong từ trường với một khoảng
thời gian nhất định, dưới tác dụng của lực từ, các điện tích sẽ được sắp xếp có
trật tự. Khi bỏ thanh thép ra khỏi từ trường, chính sự trật tự của các điện
tích sẽ tạo ra một từ trường mới (là sự tổng hợp năng lượng của các điện tích).
Thanh thép đã trở thành nam châm.
Đối với cơ thể, bình thường thì năng lượng sống tản mát, không trật tự, thậm
chí triệt tiêu nhau. Thông qua qua trình luyện tập, lặp đi lặp lại một trạng
thái nào đó (có thể là tư thế, động tác, hơi thở...), cuộc sống dần có quy
luật, cơ thể cũng dần đạt được trật tự, trường năng lượng của cơ thể trở nên
tập trung hơn, hỗ trợ lẫn nhau. Năng lượng vì thế cũng trở nên mạnh hơn (do sự
tổng hợp của các năng lượng tản mát trong cơ thể), tác động vào hệ thần kinh rõ
rệt hơn, cho con người ta cảm giác về khí.
Nhiều người sau một thời gian tập luyện, đạt được khí cảm, vận khí dễ dàng, cho
rằng nội lực đã thâm hậu. Thực ra cảm giác khí và nội lực mạnh hay yếu là hai
vấn đề khác nhau. Việc đạt được khí cảm thì dù người khoẻ hay yếu, cứ kiên trì
tập luyện sẽ đạt được. Còn nội lực mạnh phải gắn liền với một cơ thể khoẻ mạnh.
Nội khí đầy đủ, mạnh mẽ sẽ làm tăng cường khả năng trao đổi chất giữa máu với
tế bào, khiến các tế bào hoạt động tốt, cơ thể trở nên khoẻ mạnh. Cơ thể khoẻ
mạnh sẽ sinh ra nhiều nội khí, nhiều hồng cầu, tế bào, khả năng trao đổi chất
giữa chúng lại được tăng cường... cứ như vậy, tích luỹ qua nhiều năm tháng,
công phu sẽ ngày càng thâm hậu.
Việc luyện tập khí công không thể tách rời với các hoạt động hàng ngày của cuộc
sống: ăn, ngủ, giải trí, làm việc phải điều độ, phù hợp với từng người.
Việc
tập luyện khí công có thể tạo ra những tác động, ảnh hưởng tốt đẹp, giúp ích
cho chức năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thể như: bộ phận hô hấp, bộ phận
tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn máu, và thần kinh hệ,...Cũng như, tái tạo sự hoạt
động của nhiều triệu mao quản bị đình trệ, và làm chậm sự thoái hóa của các tế
bào trong cơ thể.
Việc tập luyện khí công có thể tạo ra những tác
động, ảnh hưởng tốt đẹp, giúp ích cho chức năng sinh lý của các bộ phận trong
cơ thể như: bộ phận hô hấp, bộ phận tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn máu, và thần
kinh hệ,...Cũng như, tái tạo sự hoạt động của nhiều triệu mao quản bị đình trệ,
và làm chậm sự thoái hóa của các tế bào trong cơ thể.
Trong phép trị bệnh, việc áp dụng khí công đều
đặn, cùng với thói quen ẩm thực hợp phép kiêng cử, cơ thể tái tạo sức khỏe bình
thường cho bệnh nhân về các chứng: áp huyết cao hay thấp, bệnh tim, bệnh về
đường máu, bệnh suyễn, bệnh táo bón, bệnh tiêu hóa, bệnh nhức đầu, bệnh nhứ mỏi
khớp xương và bắp thịt...
Ngoài ra, việc tập luyện khí công còn giúp ích
cho học viên gia tăng sức mạnh tinh thần như: tập trung tư tưởng, tính tự chủ,
tự kiểm soát nội tâm, tâm hồn thanh tịnh, và bình tĩnh để có một đời sống tình
cảm an hòa, khắc phục được những trở ngại bất thường trong đời sống loạn hàng
ngày. Để đạt được thành quả trong lúc tập luyện khí công, tùy theohoan cảnh,
học viên nên tuân hành nghiêm chỉnh theo một thời dụng biểu tập luyện đều đặn
hàng ngày, với những bài tập thích nghi, từng bước một, tuần tự tiến hành. Nếu
vội vã, đốt giai đoạn tập luyện, sức khỏe của học viên dễ bị tổn thương. Cũng
như, trong giai đoạn đầu tiên tập khí công, học viên nên cẩn thận tránh những
khuyết điểm. Việc tập luyện sai phép có thể tạo nên những biến chứng, gây ảnh
hưởng không tốt cho sức khỏe, và làm trở ngại cho cơ thể trong việc tập luyện.
HÔ HẤP
TRONG KHÍ CÔNG
• Ý NIỆM VỀ KHÍ:
Đối với người Tây phương, "Khí" được
hiểu bằng những danh từ như: Energy, Vital Energy, Life Force, Bio-Force,
Electromagnetism... Cũng như "Animal Magnetism" ở Úc châu do Mesmer,
"Odic Force" ở Đức do Baronvon Reichenbach, "Orgone Energy"
ở Mỹ do Wilhelm Reich, "Bioplamsm" ở Nga Sô do Inyushin.
"Khí" (Energy) tức là năng lực, năng
lượng. Khí thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như :Nhiệt năng, cơ năng,
quang năng, điện năng, hóa năng, năng lực tinh thần,...
Khí và vật có sự liên hệ mật thiết với nhau. Khí
cấu tạo ra vật, và cùng kết hợp với vật. Vật hoạt động sinh ra khí. Cũng như,
cơ quan có sự liên hệ mật thiết với cơ năng. Cơ năng quyết định sự hình thành
và phát triển cơ quan. Cơ quan ssinh hoạt biến thành cơ năng. Nhà khoa học Einstein
đã giải thích sự liên hệ giữa khí và vật bằng phương trình E = mc 2. năng lượng
khí bằng khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng. Năng lượng khí và
khối lượng vật chỉ là một, nhưng p hai hình thức khác nhau. Khi khối lượng vật
chất bị phá hủy, kết quả sẽ sinh ra năng lượng khí được tỏa ra.
Về phương diện sinh lý, cơ thể con người là một
thể chất hóa hợp của những tế bào, phân tử, nguyên tử khác nhau. Tùy theo những
yếu tố và điều kiện sống chung quanh (như: thực phẩm, nước uống, không khí, thời
tiết, xã hội...), nguồn năng lực (khí) trong cơ thể được gia tăng, hay bị suy
giảm. Trong đời sống hàng ngày, nguồn năng lực (Khí) đóng một vai trò rất quan
trọng, trong sự liên quan mật thiết giữa cơ thể và tâm trí con người. Cũng như,
hơi thở qua việc hô hấp không khí là một yếu tố quan trọng nhất, trong tiến
trình phát sinh năng lực (Khí) con người. Qua tiến trình hô hấp không khí,
dưỡng khí (oxygen) trong không khí được gạn lọc như một nhiên liệu căn bản,
dùng đốt cháy thực phẩm, để sinh ra năng lực (khí), thán khí (carbon dioxide),
và nước, theo phương trình hoá học như sau:
Food + Oxygen ® Energy + Carbon Dioxide + Water
(Đồ ăn) + (Dưỡng khí) ® (Năng lực) + (Thán khí)
+ (Nước)
Năng lực (khí) được sinh ra từ phản ứng hóa học
của dưỡng khí và đồ ăn, được dùng bồi dưỡng, điều hòa nhiệm vụ não bộ, và các
bộ phận trong cơ thể, cũng như, tạo nên một sức mạnh chịu đựng, dẻo dai về thể
chất lẫn tinh thần. Để có nguồn năng lực (khí) sung mãn, trong đòi sống khỏe
mạnh, ngoài hai yếu tố cần thiết phải có như dưỡng khí (Oxygen) (trong khí
trong lành), và thức ăn tươi tốt (đầy đủ chất dinh dưỡng), người ta cần phải có
thêm những yếu tố hỗ trợ khác, không kém phần quan trọng như: nước uống tinh
khiết, ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi tịnh dưỡng, tâm trí quân bình, và vận động
thể dục...
• HÔ HẤP VÀ SỰ SỐNG:
Hô hấp (hít thở) không khí đóng một vai trò
quan trọng nhất, trong sự sống con người. Do đó, hô hấp là để sống, sống cần
phải hô hấp, vì hô hấp tạo nên hơi thở, và nguồn sinh lực (khí) trong con
người. Nếu hơi thở chấm dứt, tiếp theo, sự chết đến ngay với con người.
Sau một công việc mệt nhọc, hay một ngày lao
tâm, lao lực, người ta áp dụng một số phương pháp hô hấp (hít thở) không khí
đúng cách. Kết quả nhận thấy cơ thể khỏe mạnh, tinh thần tươi tỉnh. Sinh lực
được phục hồi, nhờ vào sự biến năng của dưỡng khí (oxygen), được không khí mang
vào cơ thể.
Hơi thở của một người khỏe mạnh bình thường được
gọi là hơi thở tự nhiên, cần phải hội đủ bốn đặc tính: yên lặng, thanh thản,
nhẹ nhàng, và điều hòa. Hơi thở của họ biểu lộ một cách dễ dàng, nhẹ nhàng,
liên tục, không cảm thấy mệt mỏi, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào,
kể cả việc ý thức về hơi thở. Nói một cách khác, hoi thở khỏe mạnh tự nhiên là
hơi thở không dài, không ngắn, êm đềm, và đều đặn. Khi đạt được hơi thở như
thế, người ta cảm thấy nhận được sự khỏe khoắn, nhẹ nhàng trong cơ thể, tình
cảm an hòa, tinh thần bình tĩnh, trong một linhhồn minh mẩn.
Tuy nhiên, đối với người bệnh hoạn, sức khỏe yếu
kém, hơi thở của học thường có vẻ mệt nhọc, do sức cố gắng mà ra. Hơi hít vào
vô cùng ngắn, thở ra thường kéo dài, đôi khi, ngược lại. Những người có hơi thở
mất bình thường như thế, thể chất và tinh thần của họ trở nên yếu đuối, đời
sống tình cảm bất an, để đưa đến những nỗi lo âu, buồn nản, thiếu ý chí kiên nhẫn,
trong công việc hàng ngày. Tiếp tục như thế, trong một thời gian lâu dài. Điều
kiện sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó, hơi
thở của những người này cần được chăm sóc cẩn thận, trong lúc tập luyện khí
công. Dần dần, với thời gian, khí công có thể giúp họ phục hồi được hơi thở tự
nhiên, khỏe mạnh bình thường.
Nhịp độ thở trung bình của một người khỏe mạnh
bình thường là mười tám hơi thở (ra vào) trong một phút. Trong tiến trình tập
luyện khí công, thời gian cho mỗi hơi thở (ra vào) càng lúc cần được kéo dài
thêm. Vì vậy, khi đến giai đoan tiến bộ, học viên nên tập để nhịp độ thở trung
bình giảm xuống, nghĩa là giảm dần số lần của hơi thở (ra vào) trong một phút.
Các nhà thiền sư, đạo sĩ thường tập giữ cho nhịp
độ thở (ra vào) từ 5 xuống tới 2 hơi thở (ra vào) trong một phút. Với tư thế
ngồi thiền tịnh tâm, họ có thể tập kéo dài trong 30 phút. Có hai cách thông
thường để giữ cho nhịp độ thở giảm xuống như: tạo nên hơi thở nhẹ nhàng, hay
đưa hơi thở sâu xuống bụng dưới (đan điền).
• BỘ MÁY
HÔ HẤP TRONG KHÍ CÔNG:
Đối với học viên mới nhập môn khí công, điều
quan trong nhất là việc hiểu biết về sinh lý căn bản của các bộ phận liên quan
đế tiến trình hô hấp của con người như sau:
• Nhiệm
vụ của phổi:
Bộ máy hô hấp của con người gồm có hai lá phổi,
và những bộ phận trung gian, để dẫn không khí ra vào hai lá phổi như: mũi,
miện, yết hầu, thanh quản, khí quản và cuống phổi. Hai lá phổi được nằm ở hai
bên đường trung tuyến trong lồng ngực, và ngăn cách bởi quả tim. Lá phổi bên
phải gồm có ba thùy. Lá phổi bên trái có hai thùy.
Nơi tận cùng của ống khí quản được tiếp nối với
hai cuống phổi lớn, và các động mạch, để dẫn vào bên trong hai lá phổi trái
phải. Từ đó, hai cuống phổi lớn và các động mạch, càng vào bên trong phổi, càng
được phân chia thành nhiều chùm nhánh nhỏ dần, để dẫn đến tận cùng những túi
nhỏ chứa không khí (gọi là Khí bào).
Bên trong mỗi lá phổi, được cấu tạo bởi vô số,
khoảng 600 triệu túi nhỏ chứa không khí (Khí bào), chia thành hiều chùm khí
bào, đi song song với nhiều chùm mạch máu lớn nhỏ chằng chịt. Phổi được cấu tạo
bởi những mô mềm xốp, co dãn và có nhiều lỗ hình thức như một tổ ong. Mỗi túi
nhò khí bào chứa đựng một phần không khí được hít vào. Từ đó, dưỡng khí
(oxygen) được thấm xuyên qua thành của các phế mao quản. Sau đó, máu hữu dụng
hóa dưỡng khí (oxygen) và thải trừ thán khí (carbon dioxide) cùng những chất
cặn bã, do máu góp nhặt được trong hệ thống. Nếu thiếu sự hiện diện của máu,
những túi nhỏ khí bào sẽ bị thất thoát nguồn dưỡng khí (oxygen), và được thay
vào bằng thán khí (carbon dioxide).
Thể tích của hai lá phổi ở người trưởng thành,
trung bình chứa từ 4 đến 6 lít không khí, hoặc tương đương với số lượng không
khí được chứa trong quả bóng rổ (basketball). Nếu những mô tầng của hai lá phổi
được tráng mỏng ra trên mặt phẳng, diện tích của nó có thể phủ lên một nửa sân
chơi quần vợt.
Bên ngoài mỗi lá phổi được bao phủ bởi mặt trong
của màng phổi vững chắc. Mặt ngoài của màng phổi này được dính vào thành trong
lồng ngực. Vùng ở giữa màng phổi là một chất nước nhờn, để cho hai lá phổi di
chuyển linh động, trong lúc hít thở không khí.
• Vai trò
hoành cách mô:
Thân người được chia làm hai phần: phần trên là
lồng ngực, phần dưới là bụng. Hai phần này được ngăn cách bởi một "Hoành
Cách Mô" (một màng thịt gân có hình nón chóp bầu). Sự co dãn của lồng ngực
và hoành cách mô đã đóng một vai trò chủ yếu trong tiến trình hít thở không
khí.
Lồng ngực chứa đựng hai lá phổi và tim, được bao
phủ bởi bộ xương sườn và xương ức. Khi hít hơi vào, hai lá phối bắt đầu nở lớn
dần dần và gây nên sự kích thích các bắp thịt liên tiếp giữa các xương sườn.
Chính các bắp thịt này tác dụng tạo nên sự di động của bộ xương sườn, để cho
lồng ngực được căng phồng lên. Do đó, bên trong lồng ngực có thêm một khoảng
trống đủ sức chứa thể tích gia tăng của hai lá phổi. Đây là loại thở bằng ngực
(hay thở trung bình), không có sự ảnh hưởng của hoành cách mô. Phần chủ yếu là
sự dãn nở lớn tối đa của lồng ngực, để đạt được một số lượng dưỡng khí (oxygen)
lớn nhất, trong một thể tích không khí tối đa ở vào vùng giữa của hai lá phổi.
Đối với loại thở sâu (hay thở thấp, Đan Điền),
khi hít hơi vào, không khí không bị dừng lại ở vùng giữa của hai lá phổi như
nói trên, nhưng không khí được đưa sâu xuống phần dưới của hai lá phổi. Đồng
thời tạo nên một sức ép trên mặt chóp bầu của hoành cách mô, khiếncho hoành
cách mô bị đẩy thấp xuống phía bụng dưới, khoảng 4 phân (centimeters). Động tác
này tạo nên một khoảng trống, giữa mặt trên hoành cách mô và phía dưới của hai
lá phổi. Do đó, không khí gia tăng làm cho phần đáy của hai lá phổi, dãn nở
thêm xuống phía dưới. Trong khi đó, tất cả những túi nhỏ khí bào, ở vùng dưới
hai lá phổi, phải hoạt động tích cực, để có một sự dãn nở lớn gia tăng tối đa.
Được như thế, các túi nhỏ khí bào mới đạt được một thể tích tồn trữ không khí
tối đa. Điều này rất quan trọng, vì cần phải có một số lượng dưỡng khí (oxygen)
tối đa, để thay vào chỗ của số thán khí (carbon dioxide) cần được loại bỏ ra
ngoài, cũng như cần một số dưỡng khí (oxygen) để dùng vào việc tác dụng phản
ứng biến thể trong phổi.
Ngoài ra, sức ép của hoành cách mô hướng xuống
bụng dưới, đã khiến cho một số máu dư đang ứ đọng trong các nội tạng, và màng
ruột được ép dồn vào bên trong các tĩnh mạch. Cũng như, tạo nên sự kích thích
cho đôi dây tah kinh thái dương, giúp cho tâm trí trở nên thanh tịnh.
Không khí được thổ ra là buớc sau cùng cần
thiết, trong tiến trình hô hấp. Song song với không khí được thở ra, hai lá
phổi co thắt nhỏ lại dần dần, cùng lúc với lồng ngực hạ thấp xuống, vì các bắp
thịt giữa bộ xương sườn giảm dần tính kích thích, rồi trở lại bình thường. Do
đó, sức ép của hoành cách mô bị mất ảnh hưởng, rồi hoành cách mô bật hướng lên,
theo sức đàn hồi tự nhiên. Đồng thời tạo nên một sức đẩy hướng thượng, tác động
vào phần đáy của hai lá phổi, giúp gia tăng sức ép từ dưới đáy phổi, tống mạnh
không khí dơ bẩn, còn ứ đọng lại từ đáy phổi ra ngoài.
Mỗi bài khí công theo trường phái Trung Quốc đều có nghi thức
công phu để thực hiện trước và sau khi tập. Nếu không có nghi thức này, việc
luyện tập sẽ không bao giờ thành công và dễ bị tẩu hỏa nhập ma.
Nghi thức tiền công phu
Tập nóng người bằng những động tác thể dục toàn diện đã được học ở cấp 2, cấp
3; chúng có tác dụng vào đầu, mình và chân tay, tăng lưu thông tuần hoàn máu
trong cơ thể. Nhờ vậy, khi tập bài khí công, bạn sẽ dễ dẫn khí vào kinh mạch,
tránh ứ trệ máu. Tập khoảng 5-10 phút.
Sau khi
tập nóng người, cần xả công (thở xả để “trả nợ” oxy). Đứng dang chân bằng vai,
2 bàn tay ngửa, các đầu ngón tay sát nhau ở đan điền (dưới rốn 3 phân), từ từ
đưa lên ngang ngực, hít vào chậm rãi bằng mũi đến mức tối đa, bụng phình, lưỡi
đặt trên vòm họng. Sau đó lật úp 2 bàn tay ngang ngực và hạ 2 tay xuống vị trí
đan điền, đồng thời thở ra chậm rãi tối đa bằng miệng, bụng thóp lại. Thời gian
thở ra gấp đôi thời gian hít vào. Thở như vậy 10-20 lần cho đến lúc hết mệt mới
ngưng. Cách thở này rất quan trọng, giúp thải khí độc ra ngoài để chuẩn bị tập
bài khí công.
Giai đoạn tiếp theo là khởi công nhằm tụ khí đan điền, khiến khí không phân tán
lung tung trong cơ thể, để khi tập bài khí công, nội khí sản sinh ra từ đan
điền một cách liên tục, không dứt và sẽ theo những động tác của bài mà đi vào
khắp kỳ kinh bát mạch. Động tác như sau:
Bước chân trái vào sát chân phải theo lối đứng nghiêm, nam tay trái ở trong,
tay phải ở ngoài chồng lên nhau, nữ thì tay phải ở trong tay trái ở ngoài. Xoa
ở đan điền theo hình xoắn ốc thuận và nghịch chiều kim đồng hồ, ở trên xoa
không quá rốn và ở dưới không quá xương mu. Khi xoa thuận chiều kim đồng hồ thì
theo hướng ly tâm từ vòng tròn nhỏ đến vòng tròn lớn, xoa lên hít vào, xoa
xuống thở ra. Khi xoa nghịch thì từ vòng tròn lớn đến vòng tròn nhỏ đi vào
trung tâm ở đan điền, xoa lên hít vào, xoa xuống thở ra. Lưỡi đặt trên vòm
họng. Thời gian hít vào bằng thời gian thở ra, thở bằng mũi theo kiểu hít vào
phình bụng dưới, thở ra thóp bụng dưới.
Theo dịch lý Trung Hoa, nam xoa thuận 24 vòng và xoa nghịch 24 vòng, còn nữ thì
phải 36 lần. Nhưng quan điểm hiện nay là chỉ cần xoa mỗi hướng từ 3-5 vòng,
quan trọng là khi xoa bụng phải tập trung chú ý vào đan điền, không có tạp
niệm.
Cuối cùng là khâu thiền công (tĩnh tâm thư giãn). Hai tay buông xuôi úp dọc 2
bên đùi, đứng nghiêm, nhắm mắt, thở tự nhiên, lắng đọng tâm tư không nghĩ ngợi
gì cả, để cho đầu óc trống rỗng, xóa bỏ tạp niệm, chỉ biết ta đang hít vào và
thở ra. Tất cả mọi cơ quan trong cơ thể, từ thớ thịt, sợi cơ đến lục phủ ngũ
tạng đều được buông lỏng tối đa. Như thế, con người ta được đưa về vô cực để
chuẩn bị cho bài tập khí công. Từ vô cực mới sinh ra thái cực, lưỡng nghi, tứ
tượng, bát quái... Lúc tĩnh tâm, bạn là một tiểu vũ trụ đang hòa nhập với đại
vũ trụ bên ngoài. Thời gian thiền công dài hay ngắn tùy thuộc vào mỗi người,
nếu trống rỗng nhanh thì vài phút, nếu còn tạp niệm thì cứ tĩnh tâm cho đến khi
nào xóa hết tạp niệm mới thôi.
Sau khi thực hiện tuần tự các giai đoạn của tiền công phu kể trên, bạn mở mắt
ra và bắt đầu luyện tập bài khí công. Trong lúc tập, phải vận khí (phương pháp
thở) theo tính chất đặc thù của bài khí công. Nếu không vận khí mà chỉ thở tự
nhiên thì đó chỉ là bài thể dục thông thường, sẽ không mở được kỳ kinh bát
mạch.
Nghi thức hậu công phu
Sau khi tập xong bài khí công, bạn phải làm nghi thức hậu công phu gồm nhiều
bước. Đầu tiên là xả công: để “trả nợ” oxy, thải khí độc (có phần nào) trong
thời gian tập bài khí công. Cách thở xả cũng giống tiền công phu, làm cho đến
lúc khỏe hẳn.
Bước thứ hai là thu công, làm giống như khởi công. Khi tập bài khí công, khí sẽ
được phân tán khắp cơ thể, vào kỳ kinh bát mạch. Trước khi chấm dứt buổi tập,
phải thu khí gom về đan điền để dự trữ năng lượng cho cơ thể trong ngày. Nếu
không thu công, bạn sẽ gặp tác dụng phụ (tẩu hỏa nhập ma) do khí còn chạy lung
tung khi nghỉ tập.
Tiếp đến là thiền công (tĩnh tâm) nhằm buông lỏng, thư giãn tối đa toàn bộ cơ
thể và hệ thần kinh, giúp người tập tránh được sự cố tắc khí ở kinh mạch.
Dư công là khâu cuối cùng, giúp kiểm tra và thải những khí độc còn sót lại
trong cơ thể; thực hiện một trong 2 cách:
- Xả công: Chỉ 5 lần mà thôi.
- Đi bách bộ chậm rãi 1-2 phút quanh sân tập, bước 3 bước thì hít vào chậm rãi
bằng mũi, rồi bước 3 bước và thở ra bằng miệng, giữ đầu óc thư thái, không nghĩ
ngợi lung tung, chỉ nghĩ đến hơi thở ra vào mà thôi. Nếu không có thời gian thì
có thể chỉ thở xả công tại chỗ 5 lần.
ÐỊNH NGHĨA
Khí là nguồn năng lực sống của con người. Khí luân lưu trong khắp cơ thể theo
các đường Kinh mạch vào Lục phủ ngũ tạng. Khí biểu hiện dưới cả hai dạng vật
chất và tinh thần, nhưng mắt ta không nhìn thấy được (không được lầm lẫn giữa
Khí và Không Khí. Không khí là khí trời, là phương tiện để ta hô hấp trong lúc
luyện Khí.)
Mỗi người sinh ra đều mang trong cơ thể một lượng khí nhất định, nhiều ít tuỳ
theo từng người. Ðó là Khí trời cho, tức Khí thụ hưởng từ cha mẹ, còn gọi là
Tiên Thiên Khí hay Khí Bẩm Sinh. Ngoài Tiên Thiên Khí, hàng ngày con người còn
tiếp thụ một lượng Khí từ bên ngoài vào cơ thể mình xuyên qua đồ ăn thứcuống,
không khí, ánh sáng, vũ trụ tuyến và môi trường sống nói chung. Loại khí này
gọi là Hậu Thiên Khí (tức Khí Có Sau).
Khí Công: Là công phu tập luyện để điều hòa, phát huy tích luỹ
và sử dụng hai loại khí nói trên. Hai loại khí ấy phối hợp và cộng hưởng với
nhau làm thành Chân Khí. Chân Khí thịnh thì người khỏe, khi suy thì người yếu,
khi rối thì người bệnh, khi kiệt thì người chết.
Có thể nói, Khí Công là gốc của các phái võ Nội Gia, là căn cốt của mọi phương
pháp dưỡng sinh Ðông A. Hình thành từ các Phép Ðạo Dẫn của Ðạo Gia, phối hợp
với Môn Phái Thiền Tông Ðạt Ma Sư Tổ, Khí Công triển khai qua dịch học đã trở
nên rất phong phú và mỗi ngày một phát triển nhất là dựa vào y học hiện đại.
Lấy nguyên lý Quân Bình Âm Dương, Ðiều Hòa Ngũ Hành làm căn bản trong luyện
khí. Khí công làm gia tăng nội lực, một mục tiêu mà mọi võ gia đều mong muốn.
Lại nữa, cũng trên căn bản này, các Võ Gia còn có thể tự trị bệnh và hơn thế,
trị bệnh cho người khác, thể hiện Tinh Thần của Võ Ðạo.
Phương pháp luyện tập Khí Công không khó, nhưng muốn luyện tập Khí Công thành
tựu thì phải có quyết tâm cao và tốn nhiều công phu. Cũng ví như cách học làm
thơ, cách chơi các nhạc cụ thì không khó nhưng muốn trở thành một thi sĩ, một
nhạc sĩ có tài thì khó hơn. Chính vì vậy có người nói muốn luyện thành Khí Công
thì phải có "cơ duyên". Nhưng điều chắc chắn là bất cứ ai nếu yêu
thích Khí Công và kiên trì luyện tập theo đúng phương pháp thì cũng sẽ đạt được
một kết quả nhất định, đủ để giúp cho thân thể kháng kiện, kịch phát năng lực
bản thân, điều trị được nhiều loại bệnh tật của chính mình và của người khác
như các loại bệnh về Tim mạch - Thần Kinh - Tê Thấp - Thận Suy - Các loại bệnh
về hô hấp, tiêu hóa, các loại bệnh liên quan đến cột sống v.v...
Tập Khí Công còn làm gia tăng tuổi thọ. Ðối với các võ sinh luyện Khí Công còn
tích lũy nội lực, tập trung tâm ý, ngõ hầu phát huy tối đa hiệu quả của đòn
thế.
KỸ THUẬT LUYỆN KHÍ
Các phương pháp luyện khí thay đổi tùy theo các Trường Phái. Ðại để có năm
Trường Phái chính: Ðạo Gia - Phật Gia - Y Gia - Võ Gia.
Phương pháp của Ðạo Gia chủ yếu tạo sự kháng kiện cả thể xác và tâm hồn.
Phương pháp này dạy cách phát triển trau dồi Tâm Chất và sự sống. Nghĩa là nhấn
mạnh cả về hai mặt: luyện tập và suy tưởng.
Phương pháp của Phật Gia đặt nặng về sự điều hòa phần Tâm, tức là gạt bỏ mọi
tạp niệm để đầuóc trống rỗng, tiến đến giác ngộ.
Phương pháp của Khổng Gia lại nêu ra những "Nguyên Tắc Của Tâm Hồn!"
Sự chân chính và sự rèn luyện các đức tính. Ðưa người tập vào trạng thái nghỉ
ngơi, an bình và yên tĩnh.
Phương pháp của Y Gia chủ trương dùng Khí Công để điều trị bệnh tật, bảo dưỡng
sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.
Phương pháp của Võ Gia nhằm xây dựng sức mạnh cá nhân, biết chấn tĩnh tinh thần
khi bị tấn công hoặc để công kích địch thủ. Mặc dầu phương pháp này cũng có
chức năng bảo vệ sức khỏe và nâng cao tuổi thọ nhưng nó khác hẳn với các Trường
Phái nói trên.
Tuy các phương pháp của các Trường Phái có sự khác biệt nhưng chúng vẫn không
nằm ngoài ba nguyên tắc chính: Tĩnh Luyện, Ðộng Luyện, và Tĩnh Ðộng Luyện. Cả
ba nguyên tắc này đều có 3 mặt: Luyện Tâm (tức Ðiều Tâm), Luyện
Thở (tức Ðiều Tức) và Luyện Hình (tức Ðiều Thân).
Luyện Tâm (Ðiều Tâm): Bắt buộc phải gạt bỏ mọi suy nghĩ, ưu tư và tình cảm để
đầu óc trống rỗng hoặc phải tập trung ý niệm vào một điểm để đưa trí não vào
một trạng thái đặc biệt. Cách luyện này gọi là Ðịnh Thần.
Luyện Thở (Ðiều Tức): Những bài tập thở gồm: Nạp Khí - Vận Khí - Xả Khí - Bế
Khí, đều phải "nhẹ và sâu" (sẽ chỉ dẫn ở phần sau).
Luyện Hình (Ðiều Thân): Gồm nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể qua nhiều tư
thế, xuyên qua 6 cách: Ði - Ðứng - Ngồi - Nằm - Quỳ - Thoa Bóp.
Bất kể luyện tập theo phương pháp nào, nếu tập bền bỉ và đúng phép thì chắc
chắn sẽ đạt được một công phu đáng kể. Khí Công của Việt Võ Ðạo tổng hợp các
kinh nghiệm của nhiều Trường Phái khác nhau, chủ yếu để luyện Tâm & Thân
theo nguyên lý "Cương Nhu Phối Triển." Cũng để tập trung sức mạnh của
TÂM THÂN trong tự vệ chiến đấu, điều trị bệnh tật và gia tăng tuổi thọ.
Phương pháp khí công trong võ thuật còn gọi là: Nội Công. Nội công là phương
pháp luyện tập những phần bên trong của cơ thể con người (không luyện cơ bắp
như thể thao). Luyện bên trong tức là phương pháp luyện để :
- Kinh mạch điều hòa (luyện Kinh Mạch).
- Thần kinh vững mạnh (luyện Tâm).
- Lục phủ ngũ tạng được kích phát và kháng kiện (luyện Phủ Tạng).
Muốn "luyện bên trong" chủ yếu là phải vận dụng hơi thở. Thở đúng
phương pháp là cơ bản của việc luyện công. Thở tự nhiên hàng ngày là thở Vô
Thức. Thở Nội Công là thở Có Ý Thức. Thở chủ động theo phương pháp đã được
nghiên cứu công phu.
CÁCH THỞ NỘI CÔNG
A. Thở Bụng: là cách thở chủ yếu, trong Nội Công gọi là "Thở
Thuận".
Trong khi luyện thở có thể Nằm - Ngồi - Ði - Ðứng đều được cả, nhưng bao giờ
cũng phải giữ cho xương sống thật thẳng.
Nằm: Trên một mặt bằng cứng (không nệm, không gối đầu) hai tay để úp xuôi theo
thân mình.
Ngồi: Ngồi xếp bằng theo lối bán già hay kiết già tùy ý. Cũng có thể ngồi trên
ghế, không dựa lưng, hai chân để xuôi xuống sàn một cách ngay ngắn, hai tay
buông xuôi xuống hoặc để trên hai bắp vế. Giữ lưng thẳng góc với mặt ghế.
Ðứng: Ðứng thật thẳng như thế "Nghiêm" nhưng hai chân ngang rộng
khoảng 25cm cho vững. Hai tay buông xuôi thoải mái, không co cứng cơ.
Ði: Hai chân di động nhưng giữ thân người thật thẳng. Dù ở tư thế nào hai tay
và hai vai đều buông lỏng thoải mái. Trước khi thở phải gạt bỏ tạp niệm. Tập
trung ý vào hơi thở.
Lưu ý: chữ Khí dùng ở đây chỉ là Khí Trời, tức Hơi Thở, không phải là Chân Khí
như đã định nghĩa.
Thực Hành
Nạp Khí: Hít khí trời thẳng vào bụng dưới, tất nhiên bụng dưới sẽ căng lên.
Vận Khí: Nín thở, dồn hơi vào Ðan Ðiền (cách vùng bụng dưới rốn khoảng 3- 4cm)
rồi dồn khí luân lưu theo Kinh Mạch.
Xả Khí: Thở ra hết, thót bụng lại, từ từ nhẹ nhàng cho hơi ra hết.
Bế Khí: Ngưng thở trong lúc bụng trống rỗng, nhíu cơ hậu môn lại và tưởng tượng
khí của toàn cơ thể trở về Ðan Ðiền.
Một vòng thở đủ bốn nhịp như thế gọi là Phép Thở 4 Thì.
Lưu ý:
Cả 4 thì đều phải: Êm, Nhẹ, Ðều Ðặn. Kết hợp co cơ và giãn cơ, nhưng giãn cơ là
chính.
Tự điều hòa 4 nhịp sao cho vừa phải để cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Nếu chỉ
Nạp, Vận, và Xả mà không Bế Khí thì đó là Phép Thở 3 thì.
Nếu chỉ Nạp và Xả không thôi thì đó là Phép Thở 2 thì. Các Ðạo Gia thường áp
dụng lối thở hai thì và lấy thư giãn là chủ yếu.
Những người bị bệnh do cao huyết áp, bệnh Tim mạch, bệnh Hen Suyễn chỉ nên thở
2 thì. Thở thật đều, nhẹ và êm.
B. Thở Ngực (Còn gọi là Thở Nghịch):
Lúc Nạp Khí, Ngực căng lên, Bụng thót lại. Lúc Xả Khí, Ngực xẹp xuống, Bụng hơi
phình ra. Phép Thở Nghịch rất tốt cho Phế Nang Thượng, tạo sự cường tráng.
Người mới tập thở mỗi ngày nên chia làm nhiều lần, mỗi lần khoảng 5, 10 phút và
thật đúng giờ, trong tư thế Ði - Ðứng - Ngồi - Nằm đều được cả.
Khi đã thở quen, dần dần tăng thời gian tập lên. Những nhà Khí Công chuyên
nghiệp họ thở hầu như suốt ngày, dĩ nhiên trừ lúc ăn no, làm việc nặng, ngủ
nghỉ. Ðây mới chỉ là những cách thở căn bản trong Khí Công. Thở đúng cách theo
các tư thế khác nhau là chúng ta bắt đầu bước vào con đường luyện tập Khí Công
hay Nội Công vậy.
VS. Trần Huy Phong
Khí là nguồn năng lực sống của con người (vital energy). Có hai
loại Khí: Khí Tiên Thiên do cha mẹ truyền thụ, Khí Hậu Thiên do ta tiếp thụ qua
dinh dưỡng và môi trường sống. Khí luân lưu khắp cơ thể, qua các đường Kinh
Mạch vào lục phủ ngũ tạng. Khí biểu hiện dưới cả hai dạng vật chất và tinh thần
(các nhà khoa học đã dùng máy móc để thí nghiệm và xác minh điều đó), nhưng với
mắt thường ta không nhìn thấy được. Không bao giờ được lầm lẫn Khí và Khí Trời
(tức không
khí), vì không khí (air) chỉ là một trong những phương tiện, dùng để hô hấp
trong khi Luyện Khí.
Võ lâm Trung Nguyên thường truyền tụng một câu nói rất nổi tiếng:
Lực bất đả quyền
Quyền bất đả công
Luyện vũ bất luyện công
Ðáo lão nhất trường không.
Có nghĩa là "người chỉ có sức khỏe không thôi thì không thể đánh người
giỏi quyền pháp, và người có quyền pháp không thắng được người có Khí Công. Tập
võ mà không luyện Khí Công thì khi về già sẽ không còn gì nữa".
Những Phương Pháp Thở Thông Thường Ðể Chuẩn Bị Luyện Khí
Lưu ý: Thở đúng phương pháp là phần cơ bản của việc luyện Công. Thở hàng ngày
là thở tự nhiên, thở vô thức. Thở Khí Công hay Nội Công là thở có ý thức, thở
theo phương pháp. Các bài thở thông thường này, chưa cần thiết phải áp dụng
những phương pháp Nhập Tĩnh, Thu Công.
Tư Thế : Trong khi luyện thở, có thể Nằm - Ngồi - Ðứng đều được cả, nhưng bao
giờ cũng phải cho đầu, cổ và xương sống thật thẳng thì Khí mới có thể lưu thông
được.
Nằm: trên một mặt bằng và cứng (không nệm, không gối đầu), hai tay để úp, xuôi
theo thân mình. Hai chân duỗi thẳng, gót chân chạm nhau, mũi bàn chân ngả ra
hai bên. Tư thế nằm áp dụng cho những người sức khỏe quá yếu, hoặc những người
thiếu máu, không thể ngồi lâu được.
Ngồi: ngồi xếp bằng theo lối bán già hay kiết già tùy ý, cũng có thể ngồi trên
ghế, không dựa lưng, hai chân để xuôi xuống sàn một cách tự nhiên, ngay ngắn,
hai tay buông xuôi xuống hoặc để trên hai bắp vế. Ðiều quan trọng là phải giữ
cho đầu, cổ xương sống xuống đến hậu môn ở trên một đường thẳng. Ngồi là tư thế
đúng nhất và tốt nhất cho việc Luyện Khí´.
Ðứng: Hai chân đứng song song, dang rộng khoảng 25cm, cho vững, hai tay buông
xuôi theo thân người, hai đầu gối hơi chùng xuống một chút, nặng ở hai gót
chân, buông lỏng hai vai. Tư thế đứng dùng để tập luyện nhiều động tác quan
trọng.
Dù ở tư thế nào, thân, vai, bụng đều buông lỏng, thoải mái. Trước khi thở phải
gạt bỏ hết mọi ý nghĩ, tập trung tinh thần vào hơi thở. Trước khi Luyện Khí nên
biết Thư Giãn. Không biết Thư Giãn thì kết quả Luyện Khí sẽ bị giới hạn rất
nhiều:
Thư giãn Cơ Bắp: buông lỏng tất cả dường gân, thớ thịt: từ đầu ngón tay cho tới
tứ chi, vai, bụng và toàn thể thân người, coi như toàn thân mềm nhũn ra, không
còn một trương lực nào cả.
Thư giãn Tâm Thần: để bộ não từ từ tan biến đi, không còn một ý thức nào nữa,
không nghe, không thấy, không biết gì nữa, cứ để tâm chìm vào hư vô... Mới đầu
khó thực hiện, nhưng sau sẽ quen dần. Ðộng tác Thư Giãn sẽ giúp ta thấy nhẹ
nhàng, khoan thai, dễ chịu sau những giờ làm việc căng thẳng. Thư giãn thoải
mái xong mới bắt đầu tập luyện.
I. Thở Bụng: (còn gọi là thở Thuận):
Phương pháp thở bụng 2 thời liên tục: ngồi bán già hay kiết già, hay ngồi trên
ghế hoặc đứng, hoặc nằm trên mặt phẳng và cứng, không gối đầu, mục đích giữ cho
đầu, cổ, lưng thật thẳng, hai tay buông xuôi.
Nạp Khí: Từ từ hít hơi vào thẳng bụng dưới theo phương pháp: đều, nhẹ, êm, sâu
(khi đầy, bụng hơi phình ra).
Xả Khí: ngay khi đó, từ từ thở ra cũng đều- nhẹ - êm và thở ra hết.
Ghi chú quan trọng:
- Hít vào và thở ra đều bằng mũi.
- Công thức : mới tập theo công thức 3-3 (nghĩa là hít vào trong 3 giây và thở
ra cũng đúng 3 giây, nghĩa là thở 10 vòng trong 1 phút. Cách đếm : ba trăm lẻ
một, ba trăm lẻ hai, ba trăm lẻ ba... cứ đếm đều đặn là rất đúng, nếu cần lấy
đồng hồ ra căn lại cách đếm cho chính xác hơn), dù ta có thể tập dài hơn cũng
đừng cố, phải tập ít nhất trong 3 tuần lễ mới có thể tăng dần.
Về sau, khi đã tập luyện vững vàng rồi, ta có thể theo công thức : 5-5 (tức 5
vòng thở ra một phút) hoặc 6-6 (tức 6 vòng thở trong một phút). Một người bình
thường, thở trung bình 15 vòng trong 1 phút, nếu nay ta thở chỉ còn 10
vòng/phút là đã khá tốt rồi.
So sánh với nhịp thở của một loài động vật: gà mái 30 nhịp /phút, chó 28 nhịp
/phút, mèo 24 nhịp /phút, ngựa 16 nhịp /phút, rùa 2 nhịp /phút. Nếu nhiều công
phu tập luyện, sau này ta có thể thở từ 2 nhịp hay 1 nhịp trong một phút thì
tuổi thọ của ta có thể tăng lên như loài rùa. Mặt khác, khi thở chậm, nhịp tim
cũng sẽ đập chậm lại và đều hơn. Giả thử nhịp tim đang từ 90 giảm xuống 60
lần/phút, tức là tiết giảm được 30 lần/phút. Nếu tính trong một năm thì sẽ tiết
giảm được: 30 lần x 60 x 24 x 365 ngày = 15,768,000 lần.
Tập đúng: thân thể tráng kiện, da mặt hồng hào, sáng láng, mắt sáng, tinh thần
thoải mái dễ chịu.
Tập sai: Nồng độ CO2 trong máu quá cao, gây ra các triệu chứng dễ nhức đỉnh đầu
và vùng gáy. Tim bị hồi hộp, ăn không tiêu... gặp trường hợp này, xả trong một
tuần lễ sẽ khỏi (xem cách XẢ ở phần Thụ Công - đoạn chót bài 4).
Phương pháp thở bụng 3 thời: công thức 3-3-3 hoặc 4-4-4. Nghĩa là Nạp Khí trong
3 giây. Sau đó dồn khí xuống Ðan Ðiền (tức huyệt Khí Hải - cách lỗ rốn khoảng
từ 3 tới 4 cm), ngưng tụ khí tại đó trong 3 giây, làm cho đan điền căng lên,
đồng thời ta nhíu hậu môn và đường tiểu tiện lại. Sau đó, buông lỏng tất cả và
từ từ Xả Khí ra trong 3 giây, cho không khí ra hết, xả xong lại tiếp tục Nạp
Khí, thở cho vòng kế tiếp, liên tục không ngừng. Sự ngưng tụ khí tại Ðan Ðiền
này rất quan trọng sẽ giải thích sau.
Phương pháp thở bụng 4 thời: công thức 3-3-3-3 về sau khi thở đã quen có thể áp
dụng công thức 4-4-4-4 hoặc cao hơn nữa (nhưng đừng cố quá sẽ có hại!).
Nạp trong 3 giây, ngưng tụ tại Ðan Ðiền trong 3 giây, nhíu hậu môn và đường
tiểu tiện lại, như nói ở đoạn trên. Sau đó buông lỏng tất cả, Xả (tức thở ra
nhẹ, đều, êm trong 3 giây cho hết không khí). Khi bụng đã xẹp hết hơi, ta Bế
Khí, tức
là ngưng thở hoàn toàn, để bụng trống rỗng trong 3 giây... rồi lại tiếp tục Nạp
Khí cho vòng kế tiếp .
Ghi chú: Việc thở phải điều hòa, liên tục, nhịp nhàng và bao giờ cũng phải Êm -
Nhẹ - Ðều - Dài. Thở hấp tấp, vội vàng, cốt cho đủ số là hoàn toàn vô ích!
Nên khai thác triệt để hơi thở trong ngày: nếu ta chỉ tập thở trong những buổi
chính thức theo đúng nghi thức, thì nhiều lắm, mỗi ngày, ta cũng chỉ tập được
hai buổi (mỗi buổi khoảng nửa giờ mà thôi) và tất nhiên kết quả chỉ có giới
hạn.
Nhưng theo lối thở phổ thông trình bày ở trên, ta có thể thở bất cứ lúc nào,
bất cứ tại đâu, tại văn phòng, trong xưởng, trong phòng khách, tại nơi đang làm
việc v.v... Ta khai thác được rất nhiều dịp thở trong ngày mà những người xung
quanh không hay biết, theo kiểu "tích tiểu thành đại", lâu dần thành
thói quen.
Càng thở nhiều càng thấy thoải mái dễ chịu không bị mệt mỏi, căng thẳng, chán
nả n, mất tinh thần... Tất nhiên không nên thở lúc ăn no, uống say hoặc lúc làm
việc nặng.
II . Thở Ngực (còn gọi là thở nghịch):
Ðây là phương pháp thở phổ thông trong các môn thể thao, điền kinh của Tây
phương.
Phương Pháp
Khi Nạp Khí, ta dồn không khí lên ngực trên, bụng sẽ thót lại. Lúc Xả Khí, ngực
sẽ xẹp xuống, bụng hơi phình ra. Phép thở nghịch tốt cho Phế Nang Thượng, làm
cho ngực nở nang, nhưng không hữu dụng cho phương pháp tập KHÍ CÔNG.
Lý giải theo Y-học Tây phương:
Khi ta tập các cơ bắp như tập tay, tập chân, tập cổ, tập ngực v.v... ta thường
dùng các dụng cụ như tạ, dây kéo, para fix, parallel, hoặc hít đất, nhẩy xổm,
bơi lội v.v... Nhưng nếu ta muốn tập các bộ phận bên trong như Tim, Gan, Tì,
Phế, Thận (ngũ tạng) hoặc DạDầy, Mật, Bàng Quan, Tam Tiêu, Ruột Non, Ruột Già
(lục phủ)... nhất là các Kinh Mạch và Thần Kinh, thì chúng ta tập ra sao?
Người xưa dạy ta tập bằng cách Thở Khí Công: khi ta Nạp không khí vào phần Hạ
Phế (phổi dưới) - nói là thở Bụng, nhưng thực tế, không bao giờ không khí có
thể vào thẳng bụng được. Không khí vào phần Phổi dưới, nó sẽ nở ra, đẩy Cơ
Hoành và Cơ Bụng xuống, làm cho Lục Phủ Ngũ Tạng bị ép nhẹ xuống. Khi ta Xả
Khí, Cơ Hoành và Cơ Bụng lại nâng Lục Phủ Ngũ Tạng lên. Như vậy, toàn bộ các cơ
quan trong người ta cứ liên tục bị nhồi lên, ép xuống một cách nhẹ nhàng, nhu
nhuyễn, như vậy các bộ phận bên trong của ta đã được "thoa bóp bằng hơi
một cách vô cùng êm ái". Nói cách khác, Lục Phủ Ngũ Tạng của ta đã được
tập luyện bằng những đệm hơi rất vi tế. Một khi các bộ phận trong người đã được
tập có phương pháp như thế thì tất nhiên chúng sẽ trở nên linh hoạt, không bịu
trệ và hoạt động tốt hơn, do đó Kinh Mạch của ta sẽ vận hành đều hòa hơn. Mặt
khác, vì phải tập trung tinh thần, không suy nghĩ vẩn vơ, điều này sẽ giúp cho
Thần Kinh của chúng ta vững vàng, Tâm không bị giao động, âm dương được quân
bình.
Tập như thế, tức là Tập Bên Trong - Công Phu Tập Luyện Bên Trong- Tức là Tập
Nội Công vậy.
Ghi chú: Nếu chịu khó tập Thở Nội Công liên tục đều đặn, sau 3 tháng sẽ có kết
quả cụ thể : người khỏe mạnh, năng động, vui tươi, giảm lượng đường trong máu,
giảm cholesterol, giảm huyết áp (nếu có), ăn uống, tiêu hóa tốt, sinh lý mạnh
và có thể chữa khỏi những chứng bệnh thông thường.
VS. Trần Huy Phong
Khí Công của Vovinam - Việt Võ Ðạo, có những nét đặc thù riêng,
mục đích để luyện Tâm Thân theo nguyên lý Cương Nhu Phối Triển. Chủ yếu luyện
Khí Công để Dưỡng sinh, bảo kiện, tăng cường thể lực để tự chữa một số bệnh cho
chính
bản thân và nếu khá hơn, có thể phát công để trị bệnh cho người khác. Ðặc biệt
là có khả năng tập trung sức mạnh của Tâm Thân, áp dụng trong tự vệ và chiến
đấu.
Tôi đã dự định viết một cuốn "Nội Công Nhập Môn Việt Võ Ðạo" từ mấy
năm trước, nhưng không may tôi bị lâm trọng bệnh, nên chưa thực hiện được. Do
yêu cầu của một số môn sinh, đề nghị tôi viết tiếp một vài bài nữa sau bài
"Khái Lược Về Khí Công" đăng trong tập san Việt Võ Ðạo - Trở Về Nguồn
xuất bản năm 1993. Mặc dù đang tiếp tục điều trị bệnh tại Pháp (đợt 3), tôi
cũng cố gắng đáp ứng lời yêu cầu của các bạn.
1. Môi Trường Tập
Môi trường Tập rất quan trọng, để tránh những tác động của khung cảnh từ bên
ngoài có thể tác động không tốt vào cơ thể.
Không gian: Yên tĩnh - Sạch sẽ - Thoáng mát (đừng để bị ngoại cảnh quấy rầy,
nhất là những thứ ảnh hưởng tới Ngũ Quan và cần nơi an toàn...) Không nên ngồi
tập chỗ có gió lùa. Khi trời giông bão, sấm sét, mưa to, điện trường xung quanh
biến động quá nhanh. Nên ngồi tập trên một tấm chiếu hay một tấm mền mỏng.
Thời gian: Người xưa chia thời gian theo giờ sinh thái rất phức tạp, ngày nay
ít ai theo được. Tốt nhất là nên tập vào lúc bình minh, hoặc vào những giờ rảnh
rỗi, không bị công việc chi phối là được.
Không nên luyện công trong lúc ăn no, uống say, chỉ tập khi bụng đã nhẹ (sau
bữa ăn khoảng 2 giờ).
Không tập khi đau yếu, hoặc khi làm việc quá mệt mỏi.
Không giao hợp trước và sau buổi tập.
Uống một ly nước đun sôi để nguội trước và sau buổi tập.
2. Chuẩn bị tư tưởng
Trước khi tập thở Nội Công, điều quan trọng trước hết là phải chuẩn bị Ý Niệm
và Tư Tưởng: hãy buông bỏ tất cả... không còn hình ảnh nào vương vấn trong tâm
ta nữa, không lo lắng, ưu tư, yêu ghét gì nữa... cuộc đời dù có ghê gớm đến
đâu, ta cũng nên "vứt bỏ ra ngoài trong chốc lát, để Tâm được thực sự an
bình, thư thái (điều Tâm).
3. Tư thế mẫu
Hướng ngồi nên theo hướng Nam Bắc (quay mặt về hướng Bắc cho hợp với Ðịa từ,
nhưng cũng không cần quan trọng hóa). Ngồi kiết già hay bán già đều được cả,
miễn sao thấy thoải mái. Áp dụng các nguyên tắc sau:
Lưng thẳng, cổ thẳng, đầu ngay ngắn, cằm hơi thu lại.
Bụng lỏng, hai vai và hai tay buông lỏng, toàn thân thư giãn (điều thân) cho
hai mạch Nhâm Ðốc và 12 kinh thông.
Miệng ngậm để giữ Khí, lưỡi cong đặt trên vòm ếch để thông giữa hai mạch Nhâm
Ðốc, nếu có nước miếng thì nuốt đi.
Hai lòng bàn tay để ngửa, chồng lên nhau, đặt ở vị trí bụng dưới. Con Trai tay
trái chồng lên trên, con Gái tay phải chồng lên trên.
Mắt nhắm để định thần, tư tưởng tập trung dùng Ý dẫn Khí, vì vậy phải thuộc vị
trí của các đại huyệt (coi bảng hướng dẫn).
Ðầu tiên hơi thở phải tự nhiên, đều đặn (điều Tức).
Nhập Tĩnh: Tập trung tinh thần, ta nhẩm đọc bài Kệ, trong ý:
Lưng thẳng, vai mềm, bụng lỏng ra,
Gát phăng ý nghĩ khỏi đầu ta,
Ðiều hơi, vận khí theo phương pháp,
Óc cố, tâm yên, tiến rất xa.
(Óc cố có nghĩa là đầu óc chỉ tập trung cố định vào một điểm như hơi thở chẳng
hạn).
Nếu Tâm vẫn chưa thực sự yên tĩnh, ta nhẩm đọc bài Kệ sau đây:
Chẳng mừng giận, cũng không yêu ghét,
Chẳng thương xót, cũng không lo buồn,
Ðã không ham muốn, có chi sợ hãi,
Ðểlòng thanh thản, an nhiên tự tại.
4. Luyện Công
Khi Tâm hồn đã thực sự đi vào yên tĩnh và thoải mái, ta bắt đầu luyện Công theo
phương pháp 3 thời hoặc 4 thời, nhưng theo các nguyên tắc sau đây: 3-6-3.
Mượn hơi thở không khí bằng mũi, thở Nhẹ - Êm - Dài, nhưng thực tế dùng ý thở
bằng toàn thân.
Tất nhiên vẫn thở như bài luyện thở Nội Công số 2, nhưng không quan tâm nhiều
đến hơi thở (bằng khí trời) như trước mà thở gần như vô thức. Nhưng điểm chủ
yếu là Thở Bằng Ý, thở bằng tất cả các huyệt đạo, bắt đầu thở từ huyệt Bách hội
(đỉnh đầu), thở bằng tất cả các huyệt cao trên đầu, thở bằng lỗ tai, thở bằng
các huyệt Dũng Tuyền (giữa gan bàn chân), bằng các huyệt Lao Cung (giữa gan bàn
tay), thở bằng tất cả những lỗ chân lông, dưới hạ bàn, từ hậu môn, bộ phận sinh
dục, từ huyệt Hội Âm, Trường Cường và các huyệt đạo khác... ta hấp thụ được Ðịa
Khí v.v.. nghĩa là toàn thân đều thở. Thở như thế, có nghĩa là toàn bộ cơ thể
ta đã được hấp thụ được nhiều Tinh Khí của trời đất, của Vũ Trụ, của các tia
alfa, các tia điện từ của trái đất và các hành tinh khác...
Ta dồn tất cả các khí "Âm Dương" của trời đất ấy, tích tụ vào Ðan
Ðiền, nén thành một trái cầu ngũ sắc, to như một quả cam. Ta vận hành cho trái
cầu này quay tròn trong Ðan Ðiền, theo chiều quay của kim đồng hồ và ngược lại.
Trái cầu này sẽ phát ánh sáng, soi sáng Lục Phủ Ngũ Tạng của ta, rồi soi sáng
khắp các Kinh Mạch và cơ thể ta, có thể đó chỉ là do ta tưởng tượng ra mà cũng
có thể là thật. Ánh sáng đó mỗi lúc một sáng, soi toả khắp cơ quan trong người.
Hiện tượng này có thể chỉ là ý niệm, nhưng cũng có thể là sự thật. Người Tây
phương sẽ khó có thể cảm nhận được hiện tượng này.
Trái cầu ấy chính là Khí Hậu Thiên của Trời Ðất, kết hợp với Khí Tiên Thiên vốn
đã sẵn có trong cơ thể ta để tăng cường, phối hợp, làm thành Chân Khí, mà Chân
Khí là cái gốc của sự sống, nó lưu hành, cung ứng cho các Kinh Mạch và Nội Tạng
của ta. Trái cầu "Chân Khí" đó, sau khi cung ứng cho các nội tạng và
Kinh Mạch, nó sẽ mờ dần và nhỏ dần, chỉ còn là một điểm sáng... Nhưng sau đó ta
lại tiếp tục thở, tiếp tục Nạp... trái cầu lại càng lớn và sáng trở lại... và
cứ thế tiếp tục mãi cho đến hết buổi tập. Trung bình, mỗi buổi tập ít nhất cũng
phải kéo dài trong 30 phút, ta sẽ tiếp thụ được thêm Chân Khí.
VS. Trần Huy Phong
Ghi chú: Vòng Tiểu Chu Thiên (còn gọi là Vòng Nhâm Ðốc Mạch) xưa
kia được coi như một phương pháp Khí Công bí truyền vì Luyện Vòng Tiểu Chu
Thiên duy trì sự quân bình Âm Dương. Khí luôn vận hành theo vòng khép kín,
không bao giờ ngừng, tầm mức tác dụng rất cao vào toàn bộ Kinh Mạch và chức
năng của Phủ Tạng.
Hướng đi của hai mạch Nhâm Ðốc.
Mạch Nhâm thuộc Âm (thuộc phía trước thân ngực, bụng của ta).
Mạch Ðốc thuộc Dương (thuộc phía sau lưng, chạy qua đỉnh đầu của ta).
Theo luật Âm giáng (đi xuống), Dương thăng (đi lên) thì:
Mạch Nhâm sẽ đi từ huyệt Thừa Tương (huyệt nằm ở giữa cằm, cách môi dưới độ
1cm), đi xuống theo đường giữa bụng, xuống đến huyệt Hội Âm (huyệt Hội Âm nằm ở
chính giữa bộ phận sinh dục và hậu môn).
Mạch Ðốc sẽ đi ngược lên, đi từ huyệt Trường Cường (huyệt này nằm ở điểm chót
của đốt cột sống cuối cùng, ngay đầu hậu môn), chạy ngược lên, qua đỉnhđầu,
xuống tới huyệt Ngân Giao (là huyệt nằm ở chính giữa vòm miệng, thường gọi là
hàm ếch).
Vì vậy, trong tập luyện vòng Tiểu Chu Thiên, cũng như luyện các phương pháp Khí
Công khác, lưỡi luôn phải uốn cong, đặt lên nóc hàm ếch, tại vùng huyệt Ngân
Giao, nhằm khép kín vòng Âm Dương, để Khí không bị phân tán.
Nhập Tĩnh: Ngồi bán già hay kiết già, hoặc ngồi trên ghế, từ huyệt Bách hội
(đỉnh đầu) qua sống lưng, xuống huyệt Hội Âm đều nằm trên một trục thẳng.
I. Luyện Nhâm Mạch và Ðốc Mạch Riêng (áp dụng phương pháp thở hai thời)
Luyện Nhâm Mạch
Thở vào: từ từ dẫn Khí theo Mạch Nhâm, đi từ huyệt Thừa Tương xuống huyệt Hội
Âm
Thở ra: từ từ dẫn Khí theo Mạch Nhâm, đi từ huyệt Hội Âm đi ngược lên huyệt
Thừa Tương.
Luyện Mạch Ðốc
Thở vào: dẫn Khí từ huyệt Trường Cường, ngược lên theo cột sống, qua đỉnh đầu,
tới huyệt Ngân Giao (vòm miệng)
Thở ra: dẫn Khí từ huyệt Nhân Trung (huyệt này nằm giữa vùng môi trên, ngay
giữa sống mũi), lên đỉnh đầu, xuống gáy, chạy dọc theo cột sống, xuống huyệt
Trường Cường.
II. Luyện vòng Nhâm Ðốc Chung
Thông suốt hai mạch mà không cảm thấy vướng víu, do đó cần tập trung Ý để Khí
có thể chạy dễ dàng.
a. Phương pháp thứ nhất: Luyện vòng Tiểu Chu Thiên theo hai hơi thở (mỗi hơi
hai thời).
** Hơi thở thứ nhất:
Thở vào: dẫn Khí từ huyệt Thừa Tương, xuống tới huyệt Khí Hải, hay Ðan Ðiền.
Thở ra: dẫn Khí từ huyệt Khí Hải xuống Hội Âm rồi theo Ðốc Mạch lên huyệt
Trường Cường, đồng thời co thắt hậu môn để đẩy Khí lên.
** Hơi thở thứ hai:
Thở vào: dẫn Khí từ huyệt Trường Cường cho tới huyệt Ðại Chùy (huyệt này nằm
dưới các đốt xương cổ, nhưng ngay ở đốt xương sống đầu tiên, khi ta cúi đầu
xuống, ở phần giáp xương cổ và lưng có một cục xương nhô cao, sát bên dưới đốt
xương đó là huyệt Ðại Chùy).
Thở ra: dẫn Khí từ huyệt Ðại Chùy cho tới huyệt Nhân Trung.
b. Phương pháp thứ hai: Luyện nguyên vòng Tiểu Chu Thiên bằng một chu kỳ thở
Thở vào: tưởng tượng Khí nhập vào huyệt Thừa tương, dẫn xuống qua huyệt Khí
Hải, tới Hội Âm (trong 5 giây)
Thở ra: Co thắt hậu môn, đẩy Khí từ huyệt Hội Âm, ngược theo cột sống, chạy lên
đỉnh đầu (huyệt Bách Hội), rồi tới huyệt Nhân Trung (trong 5 giây).
Cứ thế tiếp tục không ngừng nghỉ cho đến hết buổi tập. Ðến khi kết thúc buổ
tập, lúc thở ra, ta sẽ dẫn Khí xuống thẳng Ðan Ðiền.
c. Phương pháp thứ ba: Luyện hai vòng Tiểu Chu Thiên bằng một chu kỳ thở :
Thở vào: dẫn Khí đi từ huyệt Thừa Tương, chạy suốt hai mạch Nhâm Ðốc đến huyệt
Nhân Trung.
Thở ra: cũng dẫn Khí chạy suốt hai mạch Nhâm Ðốc, nhưng ở vòng cuối, dẫn Khí
chạy thẳng xuống Ðan Ðiền.
d. Phương pháp thứ tư: Luyện nhiều vòng Tiểu Chu Thiên bằng một chu kỳ thở ba
thời:
Tạm ngưng thở : dẫn Khí chạy lướt qua vòng Nhâm Ðốc mạch.
Thở vào: tụ Khí đầy ở huyệt Thừa Tương. Ngưng thở : Tập trung ý, dẫn Khí chạy
theo đường Nhâm Ðốc mạch từ 3 đến 4 lần nhanh. Ở vòng cuối cùng dẫn Khí xuống
Ðan Ðiền.
Thở ra: tưởng tượng Khí tỏa ra khắp vùng bụng dưới.
e. Phương pháp thứ năm: Vận Khí chạy ngược vòng Nhâm Ðốc Mạch. Sau khi đã tập
thành thục, ta có thể :
1. Vận Khí chạy ngược với đường đi tự nhiên trên vòng Nhâm Ðốc:
Thở vào: Vận Khí từ huyệt Hội Âm ngược lên đường giữa bụng, lên huyệt Thừa
Tương (luyện Nhâm Mạch).
Thở ra: vận Khí từ huyệt Thừa Tương, lên mặt, qua đỉnh đầu, chạy dọc xương sống
xuống Hội Âm, về Ðan Ðiền.
2. Vận Khí chạy ngược xuôi, qua lại, tới lui trên suốt vòng Nhâm Ðốc:
Có khi, chỉ cần dùng lưỡi, để lên vòm miệng (hàm ếch), hơi thở tự nhiên bình
thường, tự động vòng Nhâm Ðốc vận hành chạy liên tục không ngừng nghỉ. Tất
nhiên phải đạt tới giai đoạn nhuần nhuyền lắm thì mới có thành tựu như vậy
được.
Ghi chú: Những huyệt khó vượt qua trên mạch Ðốc:
Huyệt Trường Cường (nằm ở đốt xương cùng của cột sống), từ Hội Âm lên Trường
Cường phải qua hậu môn, là một đường cong... vì thế, ta phải co thắt hậu môn để
giúp đẩy Khí lên.
Huyệt Mệnh Môn (nằm trong khối thận, khoảng chính giữa trục Ðan Ðiền và cột
xương sống.) Khi dẫn Khí qua Mệnh Môn, ta chỉ cần tập trung Ý, cho chạy chậm
lại một chút là có thể vượt qua dễ dàng.
Huyệt Não Hộ (nằm trên vùng gáy, dưới Bách Hội, ngang với huyệt Ấn Ðường ở phía
trước), vì Khí phải vượt qua đường hõm, vòng cung của gáy nên khó đi, nhưng nếu
ta tập trung Ý, cho chạy chậm lại một chút thì Khí sẽ vượt qua dễ dàng.
Người mới tập vòng Tiểu Chu Thiên, lúc đầu chưa thấy cảm giác gì. Nhưng sau
thời gian tập quen, ta tập trung được Tâm Ý, dẫn Khí đi đúng hướng, không bị
phân tán, lúc đó ta sẽ thấy một luồng chân Khí chạy thành vòng cung trên suốt
vòng Nhâm Ðốc.
Tầm quan trọng của vòng Nhâm Ðốc: luyện vòng Nhâm Ðốc là sự giao hòa giữa Tiên
Thiên (mạch Ðốc vốn là di sản của cha mẹ), và Hậu Thiên (mạch Nhâm được tiếp
thụ từ đời sống bên ngoài).
Luyện Tiểu Chu Thiên làm thanh khiết và quân bình Âm Dương, tránh được sự rối
loạn chức năng của Phủ Tạng. Luyện vòng Tiểu Chu Thiên là bước đầu tác động vào
Tinh - Khí - Thần, tiến tới bài tập để "Tinh biến thành Khí, Khí biến
thành Thần".
VS. Trần Huy Phong
A. Tinh - Khí - Thần
Tinh, Khí, Thần là tam Bảo của con người, không có chúng thì
chúng ta không thể tồn tại được. Tinh - Khí - Thần cũng đều có Tiên Thiên và
Hậu Thiên, do đó đều có thể luyện tập để trở nên tăng tiến, sung mãn.
Tinh Tiên Thiên: (còn gọi là Nguyên Khí) là tinh chất cốt lõi của con người,
vốn là do Âm Dương của cha mẹ truyền lại, vì vậy, Tinh là nguồn mạch của sự
sống, nó duy trì tính chất di truyền của gene DNA.
Tinh Hậu Thiên: (còn có tên gọi là Thiên Ðịa Khí và Thủy Cốc Khí) có chức năng
duy trì và bù đắp cho sự tiêu hao của Tinh Tiên Thiên, do ta hấp thụ từ trời
đất (tiết thực, dinh dưỡng, thu nạp trong những môi trường sống nói chung).
Phân biệt như vậy cho có nguồn gốc, thực ra Tinh Tiên Thiên hay Tinh Hậu Thiên
cùng giao hòa làm một và ta gọi chung là Tinh Khí.
Sách Hoàng Ðế Nội Kinh cho rằng Tinh tích tụ tại Thận, điều này cũng không sai
vì Thận nên hiểu là cơ quan bao hàm cả cơ quan sinh dục, trong đó có tinh hoàn
và buồng trứng. Hai Khí giao hòa với nhau, bổ túc cho nhau để tạo thành một
dạng chung gọi là Chân Khí, hàng ngày luân lưu trong các kinh mạch và Lục Phủ
Ngũ Tạng của ta.
Chân Khí lại chia thành:
Vinh Khí: luân lưu trong các Kinh Mạch và Tạng Phủ với chức năng
điều hòa và tăng cường cho sức mạnh của Kinh Mạch và Nội Tạng. Vinh Khí mạnh
hay yếu tùy thuộc rất nhiều và tiết thực, vì vậy chúng ta phải rất cẩn thận
trong việc ăn uống.
Vệ Khí: không đi theo Kinh Mạch mà lại đi vào da thịt.
Vệ Khí khuếch tán mạnh có thể đi vào vùng rỗng của khoang ngực, bụng. Tập thở
bằng Cơ Hoành (ở bài 2) có thể làm cho Vệ Khí rất có lợi trong luyện tập võ
thuật, nó giúp cho gân, xương, cơ bắp của ta trở nên vững chắc và bảo vệ thân
thể ta chống chọi với những thay đổi của môi trường xung quanh (như trong thiết
bố sam).
Thần là chủ đạo của não. Thần có liên quan mật thiết với Tâm,
nên mới nói Tâm tàng Thần. Ðan Ðiền của Thần đóng ở Ấn Ðường và phía sau là
Bách Hội (đỉnh đầu). Nói tóm lại, Tinh là gốc của sự sống, được nuôi dưỡng hàng
ngày bởi Khí sinh sau và chịu ảnh hưởng của Chân Khí và Nguyên Khí. Mục tiêu
tối hậu của Khí Công là luyện Tinh thành Khí - Luyện Khí thành Thần (trong dịp
khác, tôi sẽ trình bày bài tập này).
Tinh - Khí - Thần xét cho cùng chỉ là một, Tinh và Thần chỉ là hai dạng khác
nhau của Khí. Tinh là trạng thái gốc, Thần là trạng thái thăng hoa của Khí. Ba
trạng thái này có liên hệ mật thiết với nhau và có tác động qua lại rất hài
hòa.
B. Nội Lực: Nội lực là sức mạnh bên
trong cơ thể con người, ai cũng có Nội Lực, chỉ nhiều ít khác nhau mà thôi. Nội
lực cũng có hai dạng: bẩm sinh và tự tạo. Rất nhiều người, trời sinh ra đã có
sẵn một nội lực phi thường và cũng không ít người, khi ra đời chỉ có một sức
mạnh yếu kém, nhưng nhờ bền chí luyện tập đúng phương pháp, cũng trở nên những
con người có sức mạnh siêu phàm.
Cái gốc của Nội Lực là Tinh - Khí - Thần, nên muốn luyện Nội Lực thì ta phải đi
từng bước. Trước hết luyện Tinh - Khí - Thần, sau đó phải biết phương pháp
luyện tập để thúc đẩy nội lực lên. Ðiều quan trọng là phải biết huy động và tập
trung nội lực vào một mục tiêu để "phá v ỡ " hay "bẻ gẫy"
những chướng ngại cần
thiết, nhất là trong võ thuật.
Nội lực thường tản mát trong khắp cơ thể ta, nhưng thường thường
ta không biết sử dụng chúng vào những mục tiêu mong muốn. Có rất nhiều câu chuyện
thực tế được kể lại như sau: có nhiều người khi gặp cơn nguy khốn, họ đã vượt
thoát được sự hiểm nghèo như nhẩy qua một hố sâu rộng nhiều mét, vượt qua một
bức tường 3 mét, phóng mình lên một cành cây cao khi gặp một con gấu đuổi tấn
công, vác được những vật nặng hàng trăm ký khi nhà đang bị cháy, bị trượt chân
trên một tòa nhà cao 33 tầng, phải túm lấy nhau, đu bám trên một bậc cửa sổ và
đã được thoát chết v.v... nhưng sau đó họ sẽ không thể nào lập lại quá trình đó
được nữa, vì nội lực của họ đã bị phân tán mỏng, không có "yếu tố kích
thích để tập trung vào một điểm hay một vùng" của cơ thể để có thể thực
hiện được những mục tiêu mong muốn, tất nhiên, không phải bất cứ ai cũng có thể
tập trung được nội lực trong lúc hiểm nguy như thế, vì thường thường lúc đó họ
"mất tinh thần, có khuynh hướng buông xuôi !"
Thường thường những nhà quán quân trong các môn điền kinh hoặc
những võ sĩ chuyên nghiệp, do công phu tập luyện hàng ngày đã quá nhuần nhuyễn,
nên họ có khả năng tập trung nội lực để phát huy hết khả năng vào đôi chân hay
đôi tay... do đó, họ đạt được những thành tích cao. Tuy nhiên, không phải lúc
nào họcũng làm được những điều mà họ mong muốn, nhiều khi họ cũng bị "phân
tâm, mất tự tin" khiến thành tích của họ bị sút giảm . Chỉ khi nào chúng
ta tập được tới trình độ "tâm ý tương thông", tập trung được toàn bộ
nội lực vào một điểm, đột khởi xuất chiêu thì lúc đó ta mới có thể cho rằng
"mình đã tự làm chủ được nội lực của mình".
Muốn phát huy được nội lực cao độ để thực hiện những mục tiêu
mong muốn, ta phải thực hiện được hai yếu tố sau đây:
Luyện nội lực thật sung mãn.
Tập trung cao độ nội lực vào một bộ phận của cơ thể để đạt mục
đích.
1. Luyện Tinh - Khí - Thần để nâng cao
nội lực.
Muốn luyện nội lực thì trước hết phải luyện Tinh - Khí - Thần,
vì đó là cái "thế chân vạc" để nâng cao nội lực. Cũng phải theo đúng
quy trình, ngồi bán già hay kiết già, "Khai Công Nhập Tĩnh", thư
giãn, an thần, vứt bỏ mọi tạp niệm v.v...
a. Luyện Tinh
Nạp Khí: thở vào từ tất cả các huyệt đạo, tập trung toàn bộ
suống vùng bụng dưới (Quan Nguyên - Khí Hải), từ 5 đến 6 giây, tập trung cao độ
ý niệm vào vùng này.
Vận Khí: ngưng thở để thu hút khí trời đất và vận hành để nén chúng thành một
"Khối Tinh Chất", quán tưởng khối đó như một bông hoa sen lớn, thơm
và tinh khiết, dùng cơ bụng dưới vận khí cho bông sen đó quay vòng theo chiều
kim
đồng hồ, rồi sau đó quay ngược lại, thời gian trong vòng khoảng 20 giây.
Xả Khí: thở ra, buông lõng tất cả cơ bắp, thở ra từ từ, bông sen sẽ tan biến và
loan tỏa ra khắp vùng Quan Nguyên, vùng bụng dưới, theo vòng đôi mạch chạy sang
Mệnh Môn, xuống Trường Cường và chạy ngược lên vùng thận du (Bế Thận).
Bế Khí: sau đó Bế Khí trong 3 giây để Tinh tan biến vào Phủ Tạng, tích lũy và
tàng trữ Tinh trong đó.
b. Luyện Khí
Luyện Khí ở đây cũng có những điểm như luyện Khí ở bài số ba,
nhưng có điểm khác biệt là tụ Khí để tăng cường trực tiếp cho Nội Lực .
Nạp Khí: qua tất cả các huyệt đạo nạp khí vào trung tâm Ðan Ðiền (Khí Hải)
trong vòng 5 giây.
Vận Khí: cắn chặt hai hàm răng, hai nắm tay nắm xiết chặt đến cao độ, cơ bụng
dưới căng ra như có một khối đá nặng hàng trăm ký đang đè xuống... Tất cả tư
tưởng và ý niệm đặt hết vào bụng dưới, không một chút gì có thể làm ta phân tâm
trong lúc này... thời gian kéo dài trong 20 giây hoặc hơn (có thể làm cho ta toát
mồ hôi).
Xả Khí: buông lỏng cơ bắp thở ra từ từ, để Khí lan tỏa ra khắp vùng bụng dưới.
Thư Giãn hoàn toàn: tất cả Tâm Thần như chết đi, tất cả mọi cơ bắp như tan rã
ra, mềm nhũn ra, dùng hai tay thoa nhẹ vào khắp vùng bụng dưới - thời gian
khoảng 10 giây, sau đó lại tiếp tục nạp Khí để làm chu kỳ tiếp theo. Trung bình
Nam làm 7 vòng, Nữ làm 9 vòng. Vì tập theo chu kỳ này rất tổn hao sức, nên nếu
muốn tập nhiều thì phải chia ra làm nhiều buổi trong ngày mà tập.
Chỉ cần tập đều trong 3 tháng, các bạn có thể hít một luồng khí vào bụng dưới,
trương cơ bụng lên và cho những môn sinh khoẻ mạnh tha hồ đấm cực mạnh vào bụng
mà chẳng sao cả.
c. Luyện Thần
Nạp Khí: Khi đã "Óc cố - Tâm an" xong, từ huyệt Bách
Hội, Nhân Trung, Phong Phủ, Não Hộ, Thái Dương, nói chung là tất cả các huyệt
đạo trên đầu... ta quán tưởng, nạp Khí từ khắp không gian thu vào Bách Hội, kết
lại ở đó thành một vòng hào quang - thời gian 10 giây.
Vận Khí: tập trung tư tưởng, ý niệm cao độ vào Bách Hội, vận hành cho
vòng"hào quang" đó xoay nhiều vòng theo chiều kim đồng hồ và sau đó
quay ngược lại - thời gian 10 giây.
Xả Khí: sau đó, dẫn một nửa Khí chạy theo Nhâm Mạch xuống Hội Âm, từ từ buông
lỏng, thư giãn và để cho Khí tự bung ra lan tỏa từ Bách Hội ra khắp không gian,
phần kia, lan xuống hạ bàn và đi vào lòng đất - thời gian 10 giây.
Bế Khí: sau đó bế Khí (ngưng thở) trong 5 giây và để cho Bách Hội và tất cả các
huyệt đạo trên đầu như chìm đắm đi, quên hết mọi thứ... và ngay sau đó lại tiếp
tục Chu Kỳ kế tiếp . Trung bình mỗi buổi tập khoảng 24 chu kỳ.
d. Luyện Nội Lực: Luyện Tinh - Khí -Thần chính là những
phương pháp luyện Nội Lực cơ bản, vì chính chúng là những chất liệu để gia tăng
nội lực. Nhưng sau đây có
ba phương pháp mà nếu tập luyện đúng cách thì Nội Lực sẽ gia
tăng nhanh chóng: Ðó là tập luyện 3 vòng xoay trên cơ thể.
Vòng xoay thứ nhất là Xoay Cổ.
Vòng xoay thứ hai là Xoay Hai Vai.
Vòng xoay thứ ba là Xoay Vòng Cột Sống Vùng Thắt Lưng.
Phương pháp
Ðứng trung bình tấn, tập trung hết Tâm Ý vào nơi tập luyện. Nạp
Khí đầy bụng dưới - nín thở (Bế Khí).
Quay cổ : cắn chặt hai hàm răng, vận tối đa gân, xương cơ Cổ lên
một trương lực thật cao. Từ từ quay cổ sát theo thân người (đầu lúc nào cũng
sát xuống xương va i- lưng - ngực), quay nhanh dần, nhanh dần, sau đó quay
ngược lại... quay cho đến khi nào hơi thể hết, cần phải thở ra thì ngưng. Thở
sâu 3 hơi, để lấy sức và tiếp tục quay vòng thứ hai. Trung bình nam 7, nữ 9.
Quay vai: cắn chặt hai hàm răng, nắm chặt hai tay, vận hết
xương, gân ở hai vai và hai tay... quay vòng tay theo hai vai từ phía sau ra
phía trước, mỗi lúc một nhanh dần, sau đó quay ngược lại, cũng nhanh dần. Khi
hơi thở đã hết thì ngưng lại. Tạm ngưng, thở sâu ba hơi để lấy lại sức và tiếp
tục quay vòng thứ hai.
Trung bình Nam 7, Nữ 9.
Xoay Cột Sống (đây là vòng xoay quan trọng nhất và cũng khó
nhất): cắn chặt hai hàm răng, căng cứng phần bụng dưới, hai tay nắm thật chặt,
dang rộng ra hai bên, cúi gục người xuống, xoay quanh vòng bụng, quanh thắt
lưng, từ phải sang trái, thân người phải bẻ gập sang các phía, lúc ngửa thì
lưng song song với mặt đất. Lúc nghiêng thì sườn phải gập hẳn sang một bên,
quay nhanh dần, nhanh dần, sau đó quay ngược lại, cũng nhanh dần. Khi hơi thở
đã hết thì ngưng lại. Tạm ngưng, thở sâu ba hơi để lấy lại sức, tiếp tục quay
vòng thứ hai. Trung bình: Nam 7, Nữ 9.
Ðây là ba vòng quay quan trọng, trong lúc quay phải vận hết Khí lực trong
người, tập trung Tâm Ý cao độ, nên việc luyện tập khá vất vả, nhưng nhờ đó mà
Nội Lực sẽ được phát triển sung mãn, nhanh chóng.
Những bài tập Khí Công còn nhiều. Ngoài Ðộng Công còn có Tĩnh Công. Trong
chương trình đã được phổ biến (giới hạn) còn có bài Khí Công Quyền, thuộc loại
"động công", vừa ứng dụng để luyện Khí, vừa ứng dụng trong kỹ thuật
chiến đấu. Một chương trình khác là "Nhị Thập Bát Tú," bao gồm 28 tư
thế Ðộng Công, luyện tập để dưỡng sinh và tự chữa bệnh cho mình và cho người
khác.
Lưu ý: người ta nói "Tập Khí Công rất dễ, ai cũng có thể
tập được, chỉ không có duyên với nó mà thôi, nhưng muốn giỏi về Khí Công thì
lại rất khó," theo tôi phần đông không chịu tập đều đặn, hoặc Tâm - Ý bị
phân tán vì công việc (cứ lo ra vớ vẩn), không thể tập trung được, hoặc đời
sống hàng ngày buông thả quá, nào hút thuốc, chơi khuya, ăn uống tự do quá độ
v.v... Tuy nhiên nếu không thể nào theo đúng đưoc pháp độ, thì cứ chịu khó tập
thở đúng (theo bài 222) thì cũng giúp cho các bạn được rất nhiều trong khoa
dưỡng sinh, bảo vệ sức khỏe, đó là cũng là một trong những mục tiêu của Môn
phái ta.
THU CÔNG
Sau khi đã Nhập Tĩnh để tập luyện, sau giai đoạn kết thúc buổi
tập, ta phải Thu Công để trở lại trạng thái bình thường. Trước khi Thu Công,
phải có ý niệm chuẩn bị Thu Công.
1. Bước đầu tiên là Xả : phải buông lỏng
các khớp toàn thân nhão hết ra, rời rạc ra, mắt mở nhìn ra xa. Từ từ hít vào
bằng mũi, thở ra bằng miệng, nhưng chậm hơn, trung bình khoảng 20 lần, nhằm
thải bớt khí CO2 tích tụ trong máu.
2. Bước hai: dùng song chưởng đẩy nhè nhẹ
ra như đẩy một cái hộp (thở ra), xong lại co vào cũng nhè nhẹ như thế (trong 20
lần).
3. Bước ba: thoa hai bàn tay vào nhau cho
thật nóng, rồi ấp vào hai mắt, tìm cảm giác có ánh sáng từ lòng bàn tay truyền
vào mắt để tăng thị lực. Rồi dùng hai bàn tay vuốt mặt nhiều lần, rồi vuốt
ngược lên đỉnh đầu cho đến khi thấy thoải mái.
4. Bước bốn: duỗi hai chân ra, dùng hai tay
thoa bóp và vuốt mắt trên, rồi mắt dưới, rồi tay này vuốt tay kia, theo chiều
trong rồi chiều ngoài.
5. Bước năm: dùng lưỡi xoay vòng trong vòng
miệng nhiều lần, có nước bọt thì nuốt đi.
6. Bước sáu: hít hơi đầy bụng, xong từ từ
cúi gập mình xuống (hai chân duỗi thẳng) thở ra chậm, lúc nâng người lên thì hít
hơi vào (làm khoảng từ 5-7 lần).
Chấm dứt Thu Công
VS. Trần Huy Phong